Ứng xử thấu tình đạt lý, bí quyết thành công thời hiện đại
Ứng xử thấu tình đạt lý, bí quyết thành công thời hiện đại
22 Tháng Ba, 2016
Le-Hang-Thuan-Cay-Cau-Hanh-Phuc-Giua-Dao-Va-Doi
Lễ Hằng Thuận cây cầu nối hạnh phúc giữa đạo và đời
3 Tháng Tư, 2016

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm

C hẳng biết tự bao giờ hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm với gương mặt từ bi phúc hậu, tay cầm bình nước cam lồ thanh tịnh cùng nhành dương cứu khổ cứu nạn chúng sanh đã đi sâu vào tâm thức người dân Việt. Hình tượng đẹp đẽ ấy cũng luôn hiện hữu trong tâm hồn bao đứa trẻ từng một thời say mê phim truyền hình Tây Du Ký. Cũng chẳng hay từ khi nào Quán Thế Âm Bồ tát đã trở thành người “bạn đồng hành” quen thuộc luôn sát cánh bên các bác tài trên muôn dặm đường hoặc “ngao du” cùng các thủy thủ trên vạn hải lý mênh mông. Tuy gần gũi là thế nhưng không phải ai cũng đều có hiểu biết đúng đắn về Ngài ngay cả những người có truyền thống thờ tự hình tượng Quán âm. Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu về ý nghĩa tên gọi, ngày Đản sanh cũng như hạnh nguyện của bồ tát để vận dụng vào tu tập, chuyển hóa thân tâm thật hiệu quả và lợi lạc.

1 Ý nghĩa tên gọi và nguồn gốc của Bồ tát Quán Thế Âm

Bồ tát:

Nghĩa là cứu thoát, giác ngộ cho tất cả các loài chúng sinh hữu tình vượt ra khỏi khổ đau ách nạn; quán là quán xét, thấy, nghe, biết đối tượng thật rõ ràng; thế là cõi đời, cõi hữu tình thế gian; âm là tiếng niệm, tiếng kêu cứu, tiếng cầu nguyện từ mọi nơi đau khổ phát ra;

Quán Thế Âm:

Có nghĩa quán chiếu, suy xét, lắng nghe tiếng kêu đau khổ của thế gian và hiện ngay nơi đó để cứu độ chúng sanh vượt qua hiểm nguy. Vì thế mà có câu niệm đầy đủ là:

“Nam mô tầm thinh cứu khổ cứu nạn đại từ đại bi linh cảm ứng Quán Thế Âm Bồ tát”.

Do công hạnh cứu độ tự tại nhiệm mầu đó, nên trong kinh điển còn gọi là Quán Tự tại Bồ tát. Cũng từ tình yêu thương của Ngài trìu mến vô biên gấp muôn vạn lòng dạ của bà mẹ hiền ở thế gian đối với đứa con yêu nên dân gian còn gọi là Từ mẫu Quán Thế Âm.
Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm 1

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm

Còn về nguồn gốc Đức Quán Thế Âm thì sao? Chắc hẳn quý Phật tử đã rõ về thân thế của Phật A Di Đà qua bài viết Nhân ngày lễ vía Phật A Di Đà nói về pháp môn Tịnh độ, theo ghi chép trong kinh Bi Hoa, Bồ Tát Quán Thế Âm là thái tử con của vua Vô Tránh Niệm. Nhờ phát tâm Bồ đề rộng lớn, tinh tấn tu các hạnh Bồ tát để phổ độ chúng sanh mà vua Vô Tránh Niệm chứng thành quả Phật A Di Đà, chủ cõi Tây phương trang nghiêm với 48 lời thệ nguyện rộng lớn để tế độ khắp cả chúng sanh. Thái tử công hạnh tròn đầy viên mãn cũng sanh về cõi ấy thành bậc đại Bồ tát hiệu là Quán Thế Âm cùng với Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sanh về cõi Cực lạc.

Để tưởng nhớ công hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm và để hoằng pháp chúng sanh, hằng năm Phật tử khắp nơi trên thế giới làm lễ vía Ngài thật trang nghiêm vào các ngày: 19/2, 19/6 và 19/9 đều theo Âm lịch:

Ngày 19/2 là ngày vía Quán Thế Âm Đản Sanh.

Ngày 19/6 là ngày vía Quán Thế Âm nhập Niết Bàn.

 Ngày 19/9 là vía Quán Thế Âm Thành Đạo.

2 Hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm

Trước khi tìm hiểu về hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm, chúng tôi trả lời câu hỏi thắc mắc của rất nhiều thiện nam tín nữ rằng Quán Thế Âm Bồ tát khi thì được thờ phụng với thân nữ, khi lại mang hình tượng nam, vậy rốt cuộc Ngài là nam hay nữ?

Theo kinh Pháp Hoa:

Phẩm Phổ Môn, Bồ tát Quán Thế Âm có thần lực tự tại, có khả năng ứng hiện vô số thân để cứu độ chúng sanh. Ngài có thể hiện thân Phật, Duyên giác, Thanh văn, Phạm vương, Đế thích, Sa môn, Trưởng giả, Cư sỹ, Phụ nữ, Trời và Thần… để thực thi bi nguyện, làm lợi ích cho chúng sanh hữu tình.

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm 2

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm

Trong văn học dân gian:

Ngài được xây dựng điển hình bằng phương thức mượn sự tướng của thế đạo để dẫn dắt con người hướng thượng quay về chánh đạo như Quan Âm Diệu Thiện đời vua Trang vương, Quán âm xách giỏ cá đời vua Huyền Tôn nhà Đường, Quán âm Thị kính đời nhà Minh, Quán Âm linh ứng đời nhà Nguyễn…

Ở đây chúng ta cần hiểu nam hay nữ là hình tướng của con người nơi thế gian. Còn đối với bậc Bồ tát thì không còn phân biệt thân nam hay thân nữ. Với tâm từ bi vô lượng, Bồ tát Quán Thế Âm tùy theo nhu cầu thiết yếu của chúng sanh muốn Ngài cứu độ, nếu là đồng nam cầu cứu Ngài hiện thân đồng nam, nếu là đồng nữ cầu cứu Ngài hiện thân đồng nữ… Ngài tùy duyên thị hiện để cứu độ tất cả; như vậy có thể nói là không nam không nữ.

Nhưng do niềm tịnh tín của các dân tộc vùng Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng thì tấm lòng nhân ái bao la của Ngài được ví như người Mẹ hiền, luôn che chở, gia hộ và tưới mát tâm hồn những đứa con chính là chúng sanh khổ đau hoạn nạn nơi trần thế. Vì vậy, tượng Ngài được thờ phụng khắp nơi đa phần là thân nữ.

Trở lại với hạnh nguyện của Quán Thế Âm Bồ tát, có 3 phương diện quan trọng xây dựng nên hình tượng đẹp đẽ về Ngài mà người Phật tử cần vận dụng tu học, đó là:

Thứ nhất, tâm đại từ đại bi

Tâm đại từ đại bi của Ngài thể hiện ở chỗ lúc nào cũng song hành, nhắc nhở, khuyên lơn, đem lại nguồn an vui cho tất cả chúng sanh. Ở đâu có tiếng than, có nỗi khổ, Ngài đều đến để cứu độ. Vì vậy Ngài trở thành biểu tượng đẹp rạng ngời cho tâm hạnh từ bi. Thông qua hình tượng về Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng ta thấy Ngài luôn cầm trên tay bình thanh tịnh chứa nước cam lồ, biểu trưng cho lòng từ bi, nhành dương liễu rưới tới đâu là chan rải tình thương tới đó, làm mát mẻ êm dịu mọi khổ đau của chúng sanh. Có thể nói bình thanh tịnh ấy là giới đức. Người Phật tử nhờ giữ giới mà trong sạch thanh tịnh. Người không giữ giới không bao giờ có tình thương chân thật hay lòng từ bi.

Ví dụ:

Người phạm giới sát sanh thì không thể có lòng từ bi. Hoặc người phạm giới uống rượu cũng không thể gọi là có tâm từ. Vì từ bi phải đi đôi với trí tuệ sáng suốt, khi uống rượu say vào thì chúng ta không thể nào tỉnh táo để sáng suốt được.

Do đó, muốn lòng từ bi càng ngày càng tăng trưởng, đòi hỏi chúng ta phải giữ giới. Đó là điều rất quan trọng mà người đệ tử Phật cần học hỏi từ đức hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Thứ hai, hạnh nhẫn nhục

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm 3

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm

Cành dương liễu có vẻ yếu mềm nhưng dẻo dai, uyển chuyển; gió chiều nào nó uốn mình theo chiều đó nhưng không gãy trong khi các loại cành cây cứng và có vẻ chắc chắn khác gặp gió mạnh lại dễ gãy. Vậy nên, cành dương liễu là biểu trưng cho đức nhẫn nhục của Quán Thế Âm Bồ tát. Để hiểu cho thấu suốt đức nhẫn nhục này của Bồ tát Quán Thế Âm, chúng tôi xin phân tích phẩm chất đạo đức nhẫn nhịn tuyệt vời của nhân vật quen thuộc Thị Kính trong tác phẩm truyện dân gian “Quan Âm Thị Kính” như một thí dụ cụ thể. Qua lịch sử cuộc đời của Thị Kính, có thể nói bà đã 3 lần chịu phải ngậm đắng nuốt cay nỗi oan khiên đau đớn.

Lần thứ nhất là khi Thị Kính định dùng kéo cắt sợi râu mọc ngược giúp chồng liền bị chồng và cả gia đình nhà chồng cho là ám sát và trả về nhà cha mẹ đẻ với tội danh oan ức: “giết chồng”. Nếu một người phụ nữ yếu đuối phải gặp nỗi hàm oan này chắc khó mà thoát ra khỏi suy nghĩ tìm đến cái chết? Nhưng Thị Kính đã không làm thế. Bà nghĩ có thân này không phải dễ, cha mẹ sanh ra, công ơn nuôi dưỡng quá lớn. Bây giờ mình vô phước gặp hàm oan này, phải làm sao chọn con đường đi cao thượng hơn, tốt đẹp hơn. Nghĩ thế bà đi tu thay vì kết liễu cuộc đời mình. Nhưng khổ nỗi, ngày xưa không có chùa Ni, chỉ có chùa Tăng cho nên bà phải giả trai. Hòa thượng Trụ trì nhận cho tu, đặt pháp hiệu là Kính Tâm.

Lần thứ hai, là nhẫn nhịn nỗi oan cừu bị Thị Mầu lẳng lơ vu cho là tác giả của bào thai trong bụng mình. Nỗi oan trước chưa giải xong, bây giờ chịu thêm hàm oan thứ hai nhục nhã hơn. Trong hoàn cảnh này, chỉ cần nói thật ra một câu thôi, Kính Tâm sẽ giải được oan tình này. Nhưng vì muốn trọn vẹn con đường tu hành đã chọn, bà nhất định không nói mình là người nữ, chấp nhận mọi hình thức khảo tra đánh đập để giữ trọn bản nguyện. Bởi vì bà đã nguyện đi tu là phải tu suốt đời, nếu khai mình là người nữ thì sẽ bị đuổi ra khỏi chùa, không được tu nữa. Vì vậy Kính Tâm thà chịu hàm oan, chịu đánh đập, hành hạ nhục nhã chứ không nói mình là người nữ. Chúng ta phải thừa nhận sức nhẫn ấy ít ai làm nổi.

Lần thứ ba, đó là sau khi Thị Mầu sinh con liền ẵm tới chùa, nói con của ông tôi trả cho ông, rồi bỏ đi về. Trong tình thế ấy, Kính Tâm không biết xử trí ra sao? Cuối cùng bà can đảm bất chấp mọi thị phi ngờ vực của làng xóm, nhất định nuôi đứa bé bằng mọi cách bởi với tâm đại từ bi bà nghĩ rằng : « Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Lòng từ bi ấy của Kính Tâm đã chiến thắng và át tất cả nỗi niềm oan khiên riêng. Mỗi sáng Kính Tâm phải bồng đứa bé đi cùng làng cùng xóm xin sữa bất chấp xóm làng mắng chửi, phỉ nhổ, mạt sát… Đó là nỗi nhục nhã và oan ức không thể chịu nổi với một con người bình thường trong thời gian ngắn, huống hồ Kính Tâm phải sống trong nỗi nhục ấy nhiều năm trời. Cuối cùng bà đã nuôi đứa bé lớn khôn trưởng thành. Thế thì cái gì đã giúp bà có sức chịu đựng phi thường như thế? Đó chính là tâm từ bi vô lượng của bà thể hiện ở nguyện vọng là làm mọi cách, chịu đựng mọi đau đớn, làm sao để đứa bé được sống mà thôi.

Trong ba lần nhẫn nhục lớn của bà, lần nhẫn nhục thứ nhất chúng ta có thể làm được. Nhưng tới lần nhẫn nhục thứ hai bị hàm oan, có đủ điều kiện minh oan mà bà không minh oan. Vì sự tu mà nhẫn nhục chịu đựng đòn roi. Tới lần nhẫn nhục thứ ba, vì tình thương chúng sanh mà chịu mọi nhục nhã khinh khi của người đời. Hai lần trước nhẫn nhục vì nguyện ước của mình, lần sau cuối nhẫn nhục vì thương chúng sanh, muốn cứu mạng chúng sanh mà quên hết đau khổ tủi nhục của bản thân. Đó là sự nhẫn nhục quá cao cả. Chính nhờ đức nhẫn nhục ấy mà thực hiện trọn vẹn lòng từ bi nuôi đứa bé lớn khôn. Vì vậy cuối cùng bà thành Phật. Khi đã thành Phật tất cả gia quyến đều được Ngài độ.

Qua phân tích ở trên, chúng ta thấy muốn đem lòng từ bi ban rải cho chúng sanh được an vui mà thiếu đức nhẫn nhục thì lòng từ bi khó thực hiện được. Đây là hạnh nguyện thứ hai vô cùng đáng quý của Quán Âm Thị Kính mà người Phật tử cần vận dụng tu học. Khi chúng ta thương mọi người, muốn giúp họ đến với đạo để tu hành, tâm hồn được trong sạch an vui, đó là lòng từ bi. Nhưng nếu thiếu đức nhẫn nhục thì khó bảo vệ được Phật sự lâu dài, cho nên phải có đức nhẫn nhục. Khi có những bất đồng về quan điểm hoặc gặp khó khăn, trở ngại trên con đường tu tập thì chúng ta luôn phải nhẫn nhịn để cùng hòa thuận và đi đến đích con đường giải thoát. Như thế Phật sự mới bền lâu được. Đức nhẫn nhục, lòng từ bi luôn đi đôi với nhau, thiếu một đức thì đức kia không thể thực hiện.

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm 4

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm

Thứ ba, hạnh lắng nghe

Bồ tát Quán Thế Âm còn được tôn vinh, tán thán với công hạnh lắng nghe. Ngài luôn lắng nghe và chia sẻ, cứu vớt chúng sinh để xoa dịu nỗi đau bất hạnh của muôn loài. Nghe để hiểu và giúp người khác nhận diện được nguồn gốc của khổ đau, để giúp người an vui. Nói về hạnh này, có ý kiến cho rằng: “Người ta chỉ có thể mất ba năm để học nói nhưng phải mất cả đời để học hạnh lắng nghe mà chưa chắc đã tròn”.

Học tập hạnh lắng nghe của Bồ Tát, chúng ta có rất nhiều lợi lạc. Lắng nghe để hiểu mình, hiểu người, để trút bỏ những ưu phiền, để lạc quan vui sống. Khi ta lắng nghe là lúc ta phát hiện ra chính bản thân mình, nghe thấy nội tâm của mình. Thông thường nỗi đau khổ khi vượt mức chịu đựng sẽ bùng nổ gây hậu quả xấu. Chỉ cần lắng nghe thôi thì chúng ta đã “cứu khổ” cho rất nhiều người.

Vì vậy, được một người lắng nghe tâm tư, thấu hiểu nỗi lòng của mình là một niềm hạnh phúc. Lắng nghe mình và người khác để hiểu và thương nhằm xây dựng hạnh phúc chính là từ bi, ban vui cứu khổ, là học theo hạnh nguyện của Đức Bồ tát Quán Thế Âm.

Cuộc sống với các đặc điểm của xã hội hiện đại đã biến con người thành những ốc đảo, dù có thể kết nối, liên lạc với mọi người ở khắp nơi trên thế giới, song con người ngày càng cô đơn hơn bởi sự bế tắc, không hiểu được nhau giữa những người thân trong gia đình và khoảng cách thế hệ trong xã hội. Những “hội chứng” của tuổi trẻ như facebook, game online… hay buồn bã, bi quan của tuổi già cùng tất cả những biểu hiện suy đồi, thực dụng, tiêu cực của đời sống hiện đại phải chăng là phản ứng khi không được chia sẻ và cảm thông.

Thực tập hạnh lắng nghe trong Phật giáo có thể chuyển hóa và trị liệu những “hội chứng” này, giúp con người xích lại gần nhau, hiểu và thương nhau hơn và đó cũng chính là giọt nước cam lồ tươi mát của Đức Bồ tát Quán Thế Âm ban rải cho tất cả muôn loài.

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm 5

Hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm

3 Khi nào niệm Quán Thế Âm Bồ Tát được linh ứng?

Nhiều người đặt câu hỏi rằng niệm Quán Thế Âm Bồ tát được tai qua nạn khỏi, vậy những người ra biển niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm sao vẫn không qua khỏi ách nạn? Nếu tất cả người gặp tai nạn là Phật tử, thường ít ai quên niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, song có người được linh ứng, có người không được. Không lẽ Bồ tát thương người này bỏ người kia? Đó là một vấn đề thuộc nhân quả, chúng ta không thể nhìn một chiều được.

Bồ tát lúc nào cũng yêu thương, cũng muốn độ chúng sanh. Nhưng tại sao có chúng sanh cầu nguyện linh ứng, có chúng sanh cầu nguyện không linh ứng. Như vậy Bồ tát có thiên vị chăng? Trong nhà Phật thường dạy chúng ta có niệm lành niệm dữ, từ đó tạo nghiệp lành nghiệp dữ.

Nếu người nghiệp lành nhiều, nghiệp dữ ít, khi gặp hoạn nạn, tha thiết chí thành tưởng niệm Bồ tát thêm phần phước duyên thì sẽ linh ứng, sự linh ứng là do phước của người ấy đã có cộng thêm phước chí thành cầu nguyện mà nên. Ngược lại người thiếu phước, sự cầu nguyện chưa đủ để bù đắp phước báu đang thiếu của mình thì cảm thấy không linh ứng. Suy cho cùng tất cả đều do mình. Nếu mong cầu cái gì cũng được chư Phật, Bồ tát  gia hộ toại ý hết, thì còn gì là luật nhân quả? Người tin chắc vào lý nhân quả thì không thể có tâm ỷ lại mong cầu vào tha nhân. Chư Phật và Bồ tát chỉ cho chúng ta một lối thoát, đó là những lời chỉ dạy trong kinh điển, rồi chúng ta theo đó mà ứng dụng hành trì. Có thế, thì chúng ta mới vượt lên được khổ đau.

Nhân ngày vía Quán Thế Âm, chúng tôi chia sẻ về hình tượng của Ngài và những hạnh nguyện quý báu của Ngài. Từ đó, giúp người học Phật có được những hiểu biết đầy đủ nhất về Bồ tát Quán Thế Âm và thực hành tu tập theo những hạnh nguyện ấy. Đó là một cách tu tập, chuyển hóa rất lợi lạc trên hành trình giải thoát của mỗi người.
Nguồn Blog Phật Giáo
Tác Giả: Diệu Trang
Diệu Trang
Diệu Trang
Biên tập viên chính thức của Blog Phật Giáo. Chuyên viên văn phòng, thích đọc sách, báo và đi du lịch về các miền quê dân dã. Đặc biệt rất thích Phật giáo.

1 Comment

  1. Phúc nói:

    Bài viết khá công phu, cảm ơn chủ bài viết.
    Mọi nguoi có thể tham khảo thêm bài tại đây: http://www.phapan.com/chi-tiet-bai-giang/hanh-nguyen-quan-am-578.html

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *