Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Tín ngưỡng tâm linh
Tín ngưỡng tâm linh
20 Tháng Một, 2016
Làm sao để dẹp bỏ thói quen ganh tỵ với người khác
Làm sao để dẹp bỏ thói quen ganh tỵ với người khác
22 Tháng Một, 2016

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

P hật giáo là một hệ thống triết lý sống cao thượng sản sinh từ Ấn Độ. Và từ đó, theo hai con đường khác nhau, Phật giáo truyền bá sang các quốc gia trong khu vực và dần dần lan rộng tới các châu lục khác trên thế giới. Ở mỗi quốc gia, do sự tiếp biến văn hóa mà Phật giáo có thể có những điểm bất đồng. Tuy vậy, về cơ bản, triết lý sống của Phật giáo đều đặt trên một nền tảng chung mang tính thống nhất.

Nền tảng đó chính là các nguyên tắc đạo đức, các phương pháp đưa tới sự chú tâm và tuệ giác giải thoát. Trong đó Bát chánh đạo được xem là nền tảng căn bản nhất.

1 Đạo đức Phật giáo và các phương diện biểu hiện của nó trong Bát chánh đạo

Đạo đức là một phạm trù có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong Phật giáo. Nó đóng vai trò nền tảng giúp con người thăng hoa trên con đường hướng đến đời sống giác ngộ, giải thoát.

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 1

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Trong Bát chánh đạo, nội dung của đạo đức biểu hiện qua ba chi phần: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.

Chánh Ngữ

Chánh ngữ là lời nói chân chính, lời nói đưa đến . Trong kinh Tăng Chi, đức Phật liệt kê bốn phương diện khác nhau đưa tới sự tịnh hạnh hay sự đúng đắn, chân chính của lời nói:

Một là từ bỏ nói dối, nói láo;

Hai là từ nói hai lưỡi;

Ba là từ bỏ nói lời độc ác;

Bốn là từ bỏ nói lời phù phiếm.

Đó là việc nhìn nhận chánh ngữ ở phương diện tiêu cực. Từ một phương diện khác mang tính tích cực, đức Phật khuyến khích hành giả cần phải nỗ lực ở 4 phương diện:

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 2

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

“Ở đây, có người đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”; nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì.

Người ấy đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi. Nghe điều gì ở chỗ này, người ấy không đi đến chỗ kia nói, để gây chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, người ấy không đi nói với những người này, để gây chia rẽ ở những người kia. Như vậy người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.

Người ấy đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nói độc ác. Người ấy chỉ dùng những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui ý nhiều người.

Người ấy đoạn tận lời nói phù phiếm. Người ấy nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi ích”.

Như vậy, chánh ngữ thực chất là lời nói xuất phát từ tình thương và tuệ giác. Nó mang tính chất chân thật và đưa tới sự đoàn kết, hòa hợp; lời nhu hòa, êm ái và cuối cùng là lời có ích thiết thực đối với đời sống chuyển hóa nội tâm.

Chánh Nghiệp

Chánh nghiệp là hành động đúng đắn, chân chánh. Truyền thống Phật giáo thường hiểu chánh nghiệp là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Điều này có nghĩa là, trong Bát chánh đạo, chánh nghiệp chỉ chú trọng tới thân nghiệp. Tuy nhiên, căn cứ vào tinh thần giáo pháp của đức Phật và thực tiễn, ta có thể mở rộng chánh nghiệp ở ba phương diện: thân, khẩu và ý.

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 3

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Trong đó ý đóng vai trò quan trọng nhất. Chính tâm thức hay ý dẫn dắt các hành động của thân và khẩu.

Kinh Pháp Cú, một bản kinh thuộc thể loại kinh tập, phổ biến trong đời sống tu học của người Phật tử các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam truyền ghi nhận một cách hình tượng ý này rằng:

“Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý ô nhiễm
Nói năng hay hành động,
Khổ não bước theo sau
Như chiếc xe theo chân con vật kéo”.

” Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý thanh tịnh
Nói năng hay hành động
An lạc bước theo sau,
Như bóng không rời hình”.

Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ hành vi và ngôn ngữ. Tùy thuộc vào sự tác ý, tư duy của mỗi người mà gặt hái hoa trái hạnh phúc hay khổ đau. Do đó, thực tập chánh nghiệp chính là nuôi dưỡng tâm ý chân chính. Không tạo điều kiện, cơ hội cho thân, khẩu, ý hoạt động theo chiều hướng tiêu cực, nhiễm ô.

Chánh mạng

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 4

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Chánh mạng là chi phần thứ ba thuộc về đạo đức trong Bát chánh đạo. Chánh mạng là sống bằng các phương tiện, nghề nghiệp, điều kiện sống chân chính. Nói rộng ra, chánh mạng là từ bỏ cuộc sống không trung thực, giữ và hướng cuộc sống của mình phù hợp với chánh pháp [1]. Đối với người cư sĩ, chánh mạng là sống bằng các điều kiện có được từ các nghề nghiệp chân chính. Trong Phật giáo, những nghề nghiệp chân chính là những nghề không vi phạm vào các nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực tạo nên nhân cách cao thượng. Trong kinh Vinajjā, đức Phật cho biết có năm loại ngành nghề mà một người cư sĩ không nên tham gia vì chúng là tà mạng. Năm loại nghề nghiệp đó là:

Buôn bán thịt,

Buôn bán người,

Buôn bán vũ khí,

Buôn bán rượu, các chất gây say, nghiện

Buôn bán chất độc.

Nói cách khác, thực tập chánh mạng là tránh xa các nghề nghiệp nuôi sống có thể gây tổn hại đến cá nhân và tha nhân. Trong ý nghĩa đó, thực chất rất khó để có một bản liệt kê đầy đủ và chính xác các ngành nghề thuộc chánh mạng hoặc tà mạng. Bởi vì, trên thực tế, ranh giới thiện ác; tốt xấu rất mong manh. Không dễ để phân định rạch ròi nghề nghiệp nào hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu. Tốt – xấu, thiện – ác còn phụ thuộc vào thái độ, tâm lý, mục đích, động cơ của các hoạt động liên quan tới nghề nghiệp của cá nhân.

Tuy vậy, khi nhận thấy những nghề nghiệp nào có thể gây nguy hại tới bản thân mình, gia đình và xã hội thì ta biết chắc là nghề nghiệp đó không phù hợp với người Phật tử. Ngược lại, nghề nghiệp nào có thể mang tới lợi ích cho mình, gia đình và xã hội thì chúng ta nên lấy đó làm phương tiện nuôi sống. Vì đó chính là chánh mạng theo tinh thần của lời Phật dạy.
Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 5

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Đối với người tu sĩ, chánh mạng là sống đúng theo tiêu chuẩn nuôi sống của người xuất gia. Điều kiện để thực hành chánh mạng lý tưởng là thiết lập đời sống thiểu dục tri túc. Thiểu dục tri túc là sống biết đủ, biết chấp nhận những cái đang có để duy trì mạng sống nhằm mục đích tu học đạt tới an lạc, giải thoát. Thông thường, thiểu dục tri túc thường được hiểu như là cách sống đơn giản, vừa đủ đối với việc ăn, mặc, chỗ ở và thuốc men, tức thiên về đời sống vật chất.

Thời đức Phật tại thế, các đệ tử của Ngài nuôi sống bản thân bằng cách khất thực. Ai cúng dường thứ gì thì các thầy ăn thứ ấy, dĩ nhiên là theo một số nguyện tắc nhất định. Chỗ ở cũng hết sức đơn giản, có khi là gốc cây, có khi là am thất bằng các vật liệu thô sơ. Càng về sau, điều kiện tu học càng phát triển, đời sống của tu sĩ có phần đầy đủ hơn. Tuy vậy đối với một tu sĩ chân chánh mà nói, vẫn phải sống trong điều kiện vừa phải và bằng các phương tiện chân chánh, chủ yếu là từ chế độ cúng dường từ các Phật tử tại gia. Các phương tiện khác như cúng sao giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu, truyền bá mê tín dị đoan, mai mối… xuất hiện trong đời sống sinh hoạt Phật giáo sau này là hoàn toàn không phù hợp với lý tưởng xuất gia của người tu sĩ, với bất kỳ lý do nào.

Tóm lại, đạo đức trong Bát chánh đạo là các giá trị được thiết lập trên nền tảng của sự tu tập, chuyển hóa thân, khẩu, ý thông qua thực hành chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Tuy vậy, sự hoàn thiện này không diễn ra một cách độc lập mà diễn ra đồng thời với các chi phần khác của Bát chánh đạo. Trong đó, chánh niệm, thuộc về thiền định, đóng vai trò then chốt trong Bát chánh đạo.

2 Thiền định và các phương diện biểu hiện của nó trong Bát chánh đạo

Trong Bát chánh đạo, nội dung thiền định thể hiện qua ba phương diện:  chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

Chánh tinh tấn

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 6

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Chánh tinh tấn là sự nỗ lực chân chánh, tức là nỗ lực thực hành con đường đưa tới an lạc, giải thoát, mà trước hết là làm cho các thiện pháp phát sinh nơi tâm thức hành giả, như chính đức Phật đã dạy:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn.”

Có thể khái quát nội dung của đoạn kinh này như sau:

1 Các tâm lý mang tính tiêu cực chưa phát sinh thì nỗ lực ngăn chặn, cắt đứt các cơ hội, nhân duyên khiến cho nó phát sinh.

2 Khi tâm lý tiêu cực đã phát sinh thì nỗ lực làm cho nó lắng dịu, nhẹ nhàng, mờ nhạt và cuối cùng vắng mặt.

3 Nỗ lực tạo cơ hội cho các tâm lý tích cực chưa sinh khởi có mặt nơi tâm thức.

4 Duy trì, phát triển tâm lý tích cực đã phát sinh, khiến cho tâm lý tích cực ngày càng lớn mạnh hơn.

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 7

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Trong cuộc sống, muốn thành tựu một điều gì đó cần phải có sự nỗ lực. Không có một sự thành công nào tự dưng đến với mình không thông qua sự nỗ lực của bản thân. Buôn bán kinh doanh, làm việc hành chính, giảng dạy, học tập…, tất cả đều đòi hỏi một sự nỗ lực cần thiết để đi tới thành công. Đó là sự tinh tấn hay nỗ lực ở phương diện sinh hoạt hằng ngày. Nó thể hiện năng lực của tâm, chưa mang hàm nghĩa đạo đức [2]. Sự phát triển tâm linh càng đòi hỏi sự tinh tấn hay sự nỗ lực nhiều hơn nữa. Sự hoàn thiện hay thành tựu thiền định trong Bát chánh đạo đều có sự hiện diện, thúc đẩy của tinh tấn. Không có tinh tấn, các yếu tố còn lại của Bát chánh đạo nói chung và thiền định nói riêng không thể nào đạt tới kết quả mỹ mãn.

Nói một cách khái quát, tinh tấn là sự nỗ lực hướng tới sự gạn lọc, chuyển hóa các yếu tố có tính cách tiêu cực, tàn hại, cấu uế; phát triển các yếu tố an lạc, giải thoát nơi nội tâm, giúp cho hành giả tu học hoàn thiện trên con đường đưa tới sự an lạc, giải thoát theo đúng tinh thần lời dạy của đức Phật. 

Chánh niệm

Một chi phần khác của Bát chánh đạo thuộc về phương diện thiền định là Chánh niệm. Chánh niệm là sự ghi nhận, quán chiếu đối tượng bằng sự tỉnh thức. Khác với tà niệm, đưa con người tới khổ đau, chánh niệm có khả năng điều phục được các tham đắm ở đời như trong kinh Bát chánh đạo đức Phật dạy:

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 8

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm [3].”

Trong Phật giáo, chánh niệm được xem là trái tim của thiền định. Chánh niệm giúp dừng lại mọi suy tưởng, các phán đoán, nhận xét và suy diễn liên hệ tới các đối tượng, vấn đề, sự kiện, tình huống chung quanh. Thực tập chánh niệm chỉ cần nhận biết mà không cần nhận xét. Nhờ nhận biết một cách sâu sắc, tâm trở nên định tĩnh, không còn bị cuống hút vào các đối tượng, vấn đề, sự kiện, tình huống diễn ra. Nhờ đó, hành giả có thể làm chủ được cảm xúc và các phản ứng của các thói quen tiêu cực.

Chánh niệm còn giúp cho mình nhận diện được bản chất của sự vật, hiện tượng, tức là sự vật hiện tượng như thế nào, nhận thức như thế ấy. Mình không để cho các ý niệm, nhận thức chủ quan phủ đầy lên bản chất của sự vật, hiện tượng. Không dán mác, dán nhãn lên mọi thứ để rồi đến một lúc nào đó chính các mác, nhãn đó chi phối, ràng buộc, đưa tới khổ đau cho mình. Chánh niệm vì thế, là cánh cửa mở ra một thế giới mới nơi con người: thế giới của sự chân thật.

Chánh định

Chi phần cuối cùng thuộc phương diện Thiền định trong Bát chánh đạo là Chánh định. Chánh định thường được hiểu là sự lắng tâm chân chính, sự lắng tâm hướng tới xả ly, giải thoát tất cả các phiền não, khổ đau vi tế ở đời. Trong kinh Bát chánh đạo, đức Phật định nghĩa chánh định như sau:

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 9

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh định [4].

Từ sự tịch tĩnh nội tâm này, tiếp tục đi sâu vào các tầng thiền cao hơn và vi tế hơn, tức định của 4 thánh quả. Chính vì vậy, chánh định là con đường đưa tới thành tựu chánh trí. Nhờ chánh định, đạo đức được trong sạch, không tỳ vết, trí tuệ được trong sáng, thanh cao, hành giả thành tựu được tuệ giác giải thoát.

3 Trí tuệ và biểu hiện của nó trong Bát chánh đạo

Chánh kiến

Chánh kiến còn gọi là chánh tri kiến, là cái nhìn, sự nhận thức chân chánh, đúng đắn. Có hai loại tri kiến hay nhận thức cần phải phân biệt. Đó là tri kiến hay nhận thức thế gian và tri kiến hay nhận thức xuất thế gian.

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 10

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Tri kiến thế gian là loại tri kiến xây dựng trên nền tảng của sự tích lũy, học tập.

Tri kiến xuất thế gian xây dựng trên nền tảng chánh niệm. Chánh kiến thuộc loại tri kiến xuất thế gian.

Trong Bát chánh đạo, chánh kiến trước hết là cái nhìn đúng đắn, cái nhìn phân biệt rạch ròi thiện và bất thiện, tốt và xấu: “Khi một vị Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bản của bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri căn bản của thiện, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có Chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này”[5].

 Thông thường, muốn xác định hành vi tốt – xấu, thiện – bất thiện của một người nào đó, người ta có các tiêu chuẩn, hệ tiêu chuẩn đạo đức nhất định của xã hội để làm công cụ phân định. Tuy nhiên, ở mỗi cộng đồng, quốc gia, nền văn hóa khác nhau thì quan niệm hay tiêu chuẩn đạo đức khác nhau. Do đó tùy vào không gian, thời gian và chủ thể cụ thể mà các tiêu chí xác định hành vi thiện – ác, tốt – xấu khác nhau. Từ đó cho thấy việc phân định rạch ròi hành vi tốt – xấu, thiện – bất thiện theo đạo đức quy ước xã hội là rất tương đối.

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 11

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Trong đạo Phật, việc phân định này có tiêu chí rất rạch ròi và đặc thù: Theo đó đức Phật dạy hành vi thiện là hành vi gắn với tâm lý không tham, không sân, không si; hành vi ác là hành vi gắn với tham, sân và si. Biểu hiện cụ thể của thiện là không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không vọng ngữ… Biểu hiện cụ thể của bất thiện là ngược lại: sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, vọng ngữ… Nói một cách khái quát, những hành vi thiện là hành vi đưa tới đời sống an lạc, giải thoát, lợi mình lợi người. Hành vi bất thiện là hành vi đưa tới sự ràng buộc, bất hạnh, khổ đau, hại mình hại người.

Thứ hai, chánh kiến còn là cái nhìn thấu suốt bản chất của các pháp. Bản chất đó chính là tính cách vô thường, duyên sinh, vô ngã của các pháp. Nói khái quát chánh kiến là cái nhìn thấu suốt Tứ đế, Bát chánh đạo, như trong kinh Chánh tri kiến đức Phật dạy: “Khi nào vị Thánh đệ tử biết già chết, tập khởi của già chết, đoạn diệt của già chết và con đường đưa đến đoạn diệt già chết, này chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh kiến…[6].
Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 12

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Đây là cái nhìn đúng đắn giúp hành giả tu tập các phương pháp đưa tới đời sống viễn ly, giải thoát theo quan điểm Phật giáo Nguyên thủy. Trong Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo phát triển, chánh kiến được xem là cái nhìn bất nhị, cái nhìn vô tướng, cái nhìn “không”. Các cái nhìn này đều đưa tới xả ly các tham muốn, ước vọng, truy cầu, đòi hỏi mang tính vọng chấp, đưa tới an lạc, giải thoát viên mãn.

Chánh tư duy

Chi phần thứ hai ở phương diện trí tuệ trong Bát chánh đạo là chánh tư duy. Chánh tư duy là tư duy chân chánh, tư duy đúng như pháp, tư duy đưa tới an lạc, giải thoát khỏi tham, sân, si:

“Này chư Tỷ-kheo! Trước khi Ta chưa giác ngộ, chưa thành chánh giác và còn là Bồ Tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”. Này chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, đó là Ta phân làm phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, đó là Ta phân làm phần thứ hai. Này chư Tỷ-kheo! Rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần. Khi dục tầm khởi lên Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại Ta, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, dục tầm này đưa đến diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết Bàn”. Này chư Tỷ-kheo! Khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại Ta”, dục tầm tự biến mất. Này chư Tỷ-kheo! Khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại người”, dục tầm tự biến mất. Này chư Tỷ-kheo! Khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại cả hai Ta và người”, dục tầm được biến mất. Này chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết Bàn”, dục tầm này được biến mất. Này chư Tỷ-kheo! Như vậy Ta cứ Chánh Tư Duy tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn diệt dục tầm”.
Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ - Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo 13

Đạo đức, Thiền định, Trí tuệ – Nền tảng an lạc giải thoát của Phật giáo

Nói cách khác, chánh tư duy là tư duy đúng đắn về các tâm lý diễn ra nơi tâm thức, nhận diện bản chất tác hại của chúng đối với quá trình thanh lọc tâm bằng chánh niệm tỉnh giác. Nhờ tư duy chân chánh trên nền tảng của chánh niệm, hành giả tự trừ bỏ, xả ly và đoạn diệt được chúng. Như vậy, chánh tư duy thực chất chính là tuệ giác, nó đưa tới sự xa lìa các nguyên nhân đưa tới phiền não khổ đau.

Như vậy, đạo đức, thiền định, trí tuệ là ba phương diện cốt lõi của Bát chánh đạo. Việc phân định một cách rạch ròi các chi phần Bát chánh đạo vào các phạm trù đạo đức, thiền định, trí tuệ chỉ là một thao tác mang tính tương đối trên phương diện lý thuyết. Trên thực tế, trong thực tập Bát chánh đạo, đạo đức, thiền định và trí tuệ luôn luôn có mặt trong nhau, không thể tách rời nhau, chúng cùng hỗ trợ cho nhau, giúp cho sự thành tựu giác ngộ, giải thoát của hành giả đạt tới viên mãn.

[1] R.M. Rathnasiri (Thích Huệ Pháp dịch) 2014: “Nguyên lý về cuộc sống lành mạnh theo quan điểm Phật giáo”. In trong Quan điểm Phật giáo về lối sống lành mạnh. – NXB Tôn giáo, tr.81.

[2] Minh Đức Triều Tâm Ảnh 2008: Phật học tinh yếu. – NXB Phương Đông, tr.279.

[3] ĐTKVN Nam truyền (HT. Thích Minh Châu dịch) 2012: “Đại kinh niệm xứ, số 22” – Trường Bộ.  – NXB Tôn giáo, tr.458.

[4] ĐTKVN Nam truyền (HT. Thích Minh Châu dịch) 2012: “Đại kinh niệm xứ, số 22” – Trường Bộ.  – NXB Tôn giáo, tr.458.

[5] ĐTKVN Nam truyền (HT. Thích Minh Châu dịch) 2012: “Kinh Chánh tri kiến, số 9” – Trung Bộ I.  – NXB Tôn giáo, tr.75.

[6] ĐTKVN Nam truyền (HT. Thích Minh Châu dịch) 2012: “Kinh Chánh tri kiến, số 9” – Trung Bộ I.  – NXB Tôn giáo, tr.78.

Nguồn Blog Phật Giáo
Tác Giả: Phạm Hoài Phong
Phạm Hoài Phong
Phạm Hoài Phong
Cộng Tác Viên Phạm Hoài Phong hiện đang sống và làm việc tại Đồng Nai. Thích nghiên cứu và tìm hiểu về Đạo Phật.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *